nguu bang

Danh mục

Tìm kiếm

Từ khóa
Giá từ
Đến

Quảng cáo

Quảng cáo









Trang chủ » Tin Tức » Ngưu bàng

Hướng dẫn trồng cây thuốc theo tiêu chí VietGAP-TPCN

Thứ hai - 25/05/2015 02:55
Công Ty TNHHSX&DVTM Tân Hương Đức Chuyên sản xuất cung cấp giống cây dược liệu Mobile : 0962638076 / 0934416030 Zalo : 0962638076


1. Vùng trồng cây thuốc 
Ảnh hưởng của khí hậu, thời tiết, đất, nước cña vïng trång đến đời sống cây trồng, quyết định năng suất chất lượng sản phẩm. Cây thuốc cũng như mọi sinh vật khác cần được sinh sống trong môi trường thớch hợp mới có điều kiện sinh trưởng và phát triển.
- Chọn vùng sinh thái cho phù hợp
Cây thuốc có nguồn gốc sinh sống khác nhau, có những cây như: Tam thất, Hoàng liên thì thích hợp nơi núi cao. Các cây ưa lạnh, có thời gian sinh trưởng ngắn như: Ngưu tất, Địa hoàng... đều có thể trồng nhiều ở miền trung du, đồng bằng trong vụ thu đông. Vỡ thế vựng trồng cõy thuốc phải đáp ứng được nhu cầu sinh thái của từng cây.
- Ánh sáng
Ánh sáng giúp cho việc quang hợp của cây và thông qua quá trình đó mà tạo ra các chất hữu cơ. Thiếu ánh sáng thì cây mọc chậm, yếu ớt, cây sinh trưởng không bình thường, lá mỏng không ra hoa hoặc ra hoa không đều. Song ánh sáng quá mạnh thì lá nhỏ, phiến lá dày, hoa cũng biến sắc.
Nhu cầu của mỗi loại cây về ánh sáng cũng khác nhau
+ Hoắc hương ưa râm, nếu trồng chỗ nắng thì lá vàng, không thơm, cây phát triển kém
+ Cây sinh địa ưa nắng, nếu trồng trong vườn rợp, cây sẽ chít lại, củ nhỏ.
+ Có những cây ưa sáng như: Hưng nhu, Bạc hà, lại có những cây ưa bóng râm như: Tam thất, xa nhân... Cây quế dưới 4 tuổi cần ít ánh sáng (che bóng) trên 4 tuổi cần nhiều ánh sáng...
Phần lớn các cây thuốc đều ưa sáng, nhưng do nhu cầu ánh sáng khác nhau, nên cần chú ý thời vụ và mật độ các loại cây sao cho thích hợp mới đạt được năng suất cao.
- Nhiệt độ
Mỗi loại cây thuốc sinh trưởng và phát triển trong một khoảng nhất định về nhiệt độ (Nhiệt độ cao nhất, nhiệt độ thấp nhất và nhiệt độ tối ưu). Tuy nhiên nhiệt độ trong không khí và nhiệt độ trong đất đều phụ thuộc vào thời tiết nắng hay mưa, nắng nhiều gây khô hạn, nhiệt độ cao, trái lại mưa nhiều gây ẩm, úng hoặc lạnh quá đều ảnh hưởng gây hại đến sinh trưởng của cây. Nhiệt độ thấp, trời rét thì hạt không nảy mầm được hoặc mọc chậm, thời gian sinh trưởng kéo dài, ra hoa kết quả không đều hay chín muộn. Nhiệt độ cao quá thì các quá trình sinh trưởng tăng lên, sau đó suy yếu. Nếu nhiệt độ đất lên đến 500C thì cây trồng bị khô héo. Nhiệt độ không khí cũng ảnh hưởng rất lớn đếm cây thuốc thí dụ: Cây ích mẫu trồng ở đồng bằng nếu tháng 4 mới gieo thì sẽ gặp nắng nóng, nhiệt độ cao nên chỉ sau 1tháng cây cao 30cm và đã ra hoa, phải thu hoạch ngay nên sản lượng không đáng kể.
+ Quế sinh trưởng và phát triển cần nhiệt độ giới hạn cao nhất là 31- 32 độ, thấp nhất 1- 9 độ, nhiệt độ tối ưu là 22- 25 độ
+ Có những cây không chịu được nhiệt độ cao như tam thất, hoàng liên, nhân sâm. Có loại cây như nhân sâm phải gieo hạt vào mùa đông cây mới mọc
+ Có cây không chịu được nhiệt độ thấp như cây chè trung du không chịu được nhiệt độ dưới 10 độ, nếu nhiệt độ thâp kéo dài cây sẽ chết
Nói chung nhiệt độ thích hợp cho đa số cây thuốc vào khoảng từ 18 đến 28 độ
- Độ ẩm
Cần chú ý đến 2 loại độ ẩm: độ ẩm không khí và độ ẩm trong đất, chúng đều cần thiết cho sinh trưởng của cây trồng. Tác động trực tiếp đến độ ẩm là lượng mưa và phân bố lượng mưa trong năm.Chế độ sương mù và thời gian phân bố .
Nếu thiếu ẩm, mặt đất và cây trồng đều tăng cường thoát hơi nước thì cây sẽ khô héo, cằn cỗi. Tuy nhiên ở từng thời kỳ sinh trưởng, cây thuốc có những yêu cầu khác nhau về độ ẩm, lúc mới gieo trồng cây còn non yếu cần có độ ẩm cao và thường xuyên. Nhưng khi cây ra hoa kết hạt, nếu độ ẩm cao quá sẽ làm hoa nở ít, hạt lép.
- Chọn đất trồng phù hợp
Phần nhiều cây thuốc ưa đất thịt pha cát, tơi xốp, nhiều màu mỡ. Những nơi nhiều cát sỏi, đất rời rạc hay nhiều đất sét, hay ngập nước đều không thể trồng cây thuốc được. Ở đất chua tuy cây mọc được, nhưng bộ rế phát triển kém, độ pH có vai trò nhất định, có loại cây thuốc ưa axit, có loại ưa đất kiềm. Ví dụ: để phát triên bạch truật độ pH cần từ 5- 6,5. Quế từ 4,5- 5,5 Sả từ 6-7...
Đất đai bao gồm những chất hữu cơ (do sự phân huỷ của mùn đất) và chất vô cơ (sự phân huỷ của đất đá). Đất bao gồm các hạt, mỗi hạt có kích thước nhất định, muốn tăng độ phì nhiêu, tơi xốp của đất cần bón phân hữu cơ. Thành phần của đất bao gồm các nguyên tố đa lượng (N, P, K), các nguyên tố trung lượng (Ca, Mg, Cl), và các nguyên tố vi lượng (Fe, Cu, Mn). Cần đánh giá chi tiết chất lượng đất và các thành phần gây đôc hai tồn dư như kim loại năng (Asen, chỡ, thủy ngân, Cadimi...) nitrat, Aflatoxin, thuốc bảo vệ thực vật, vi sinh vật gây hại..để chọn lọc hoặc khắc phục..
Lịch sử khu đất không có tồn dư yếu tố độc hai.Vị trí khu đất trồng, vùng trồng phải tránh xa những điểm có nguy cơ gây ô nhiễm, lan chuyền, phát tán các tác nhân gây độc hại cho cây trồng và sản phẩm như các khu công nghiệp, khói lò gạch và lò xi măng, khu đổ rác thải, bệnh viện, khu dân cư...
- Chế độ nước và chọn nguồn nước tưới an toàn
Đa số cây thuốc đều ưa ẩm, nhưng lại sợ úng. Nếu trời mưa luôn, độ ẩm cao thì sâu bệnh nhiều, củ, rễ, hoa, quả bị thối.
+ Úng nước thì cây chết như: bạc hà 2- 3 ngày úng thì cây chết hoàn toàn, bạch chỉ, sinh địa bị úng thì thối củ. Do đó vào mùa mưa cần khơi rãnh thoát nước.
+ Có những cây thuốc chịu hạn như: sả, bạch đàn... . Trong cùng một loài cũng thể hiện khả năng khác nhau: sả Srilanca chịu hạn tốt hơn sả Java nhưng cho năng suất tinh dầu thấp hơn.
Nhìn chung cây thuốc có nhu cầu độ ẩm thích hợp không quá khô hoặc quá ẩm. Cần một lượng mưa phù hợp, vừa phải khoảng 1500- 2000mm/năm, phân bố đều trong năm.
Để đảm bảo độ ẩm cho cây trồng, đáp ứng đúng thời điểm sinh trưởng cần phải chủ động tưới tiêu. Nguồn nước tưới phải được đánh giá thành phần, các yếu tố gây ô nhiễm đất, gây độc hai cho cây trồng, các rủi do có thể do nguồn nước gây ra như hóa chất tồn dư, kim loại năng, thành phần vi sinh vật...
2. Giống và nguyên liệu làm giống
- Đúng giống cây trồng (danh pháp, giống trồng trọt). Chất lượng giống được đảm bảo theo tiêu chuẩn ngành (có xuất xứ, nơi sản xuất, tiêu chuẩn đạt yêu cầu). Tự sản xuất giống có hồ sơ đầy đủ quá trình sản xuất và đánh giá giống theo tiêu chuẩn ngành. Quản lý và kiểm soát được nguồn bệnh trong quá trình sản xuất, lưu trữ và lưu thông giống.
- Chọn giống
Giống tốt là điều kiện tăng năng suất cây trồng. Giống kém gây nhiều bệnh hại, giống lên ngồng ra hoa làm cho củ bị gỗ hoá (bạch chỉ), phẩm chất dược liệu kém. Giống có thể nhân bằng phương pháp hữu tính hoặc vô tính.
+ Nhân giống hữu tính: ưu điểm tỷ lệ nhân giống cao, tốn ít diện tích nhân giống. Thường lấy giống ở những cây thuốc khoẻ, không sâu bệnh, hoặc có ruộng giống riêng. ở một số cây thuốc cần tỉa bớt hoa để tập chung quả trắc, thu được nhiều hạt mẩy, tỷ lệ nảy mầm cao.
Đới với hạt giống cây thuốc có tinh dầu, không phơi nắng chỉ phơi râm, phơi nắng tỷ lệ nảy mầm giảm rất nhiều. Sau khi phơi khô sàng sẩy kỹ loại bỏ hạt lép, bảo quản nơi khô mát thoáng gió (trong lọ sành, nút lá chuối khô) không nên đựng hạt giống trong lọ thuỷ tinh hay nút mài hoặc bọ giấy Polyetylen dán kín. Có những loại cây như tam thất, hoàng liên thì dùng hạt tươi vừa lấy xong để trồng. Các cây khác thì dùng hạt mới lấy ở vụ trước đó trồng tỷ lệ nảy mầm tốt nhất.
+ Nhân giống vô tính: Nhân giống vô tính cho dòng thuần , ỏp dụng cho cõy khụng tạo hạt, trồng chóng được thu hoạch: các loại cây dùng củ, rễ, mầm, thân cành để trồng như: bạc hà, huyền sâm, địa hoàng, đan sâm. Nhân giống vô tính thường dùng trong trường hợp cây không tạo hạt (địa hoàng), hoặc cần thu hoạch sớm (hoa hoè). Người ta có thể ghép mắt để nhân giống như: toá, cam, quýt.....
Dùng giống vô tính để trông fthì chóng được thu hoạch. Tuy nhiên, phương pháp này cần lượng giống nhiều và không kinh tế bằng cách trồng bằng hạt.
3. Trồng trọt
- Làm đất
Đất phải được cày ải, bừa kỹ đảm bảo tơi xốp. Với cây dược liệu có rễ ăn sâu, cần cày sõu từ 20- 30 cm. Lần cày bừa cuối cần kết hợp phòng trừ sâu bệnh, trừ cỏ dại (dùng các loại thuốc có nguồn gốc thảo dược, hạn chế sử dụng thuốc hoá học). Với vườn ươm cần phải chú ý hơn để cây con sinh trưởng được thuận lợi.
Đất phải được lên luống thuận lợi cho việc tưới tiêu, chăm sóc đi lại. Luống cao hay thấp tuỳ thuộc vào từng loại cây, thí dụ: với cây lấy lá, hoa như cúc hoa, bạc hà không cần lên luống cao. Với những cây ưa ẩm như: mần tưới, mã đề cũng cần luống thấp. Với những cây lấy củ như: Ngưu tất, Đương quy, Địa hoàng, bạch chỉ... thì cần làm luống cao để cây có điều kiện đâm rễ sâu, củ được to dài. Những cây phải trải qua mùa mưa cũng phải làm luống cao để tránh ngập úng.
- Bón phân
Cây thuốc đòi hỏi nhiều chất dinh dưỡng dùng để sinh trưởng và phát triển, ra hoa, làm củ... cho nên chúng ta cần phải bón phân. Trồng cây thuốc người ta dùng nhiều loại phân bón một lúc:
+ Phân hữu cơ: là loại phân thích hợp nhất hiện nay. Các loại phân như: phân chuồng, phân bắc ủ hoai mục, phân xanh, bèo hoa dâu... đều phải được ủ hoai mục hoàn toàn , thích hợp với cây thuốc, có tác dụng lâu bền cho cây.
+ Phân hoá học (vô cơ): cung cấp kịp thời cho cây thuốc những yếu tố cần thiết trong giai đoạn phát triển. Tác dụng cung cấp bổ sung cho cây những yếu tố mà phân hữu cơ còn thiếu hoặc ở dạng khó hấp thu:
. Phân lân giúp cho cây tạo các mô, bộ rễ phát triển. Các dạng phân lân của ta hiện nay hầu hết là phân khó hấp thụ, nên thường bón lót cùng với phân chuồng.
. Phân đạm: ở các muối dạng Amon Sunfat {(NH4)2SO4)}, Amon Nitrat (NH4NO3), hoặc Urê {CO(NH2)2} giúp cây tăng trưởng nhanh, cây chóng hồi xanh. Thiếu đạm cây sẽ cằn cỗi, lá vàng, hoa không trổ hoặc thưa. Ngược lại bón đạm nhiều quá cây mọc vống, hoa quả ít, củ ít tinh bột, khó chế biến và phẩm chất kém, sản phẩm chứa Nitrat cao còn là nguyên nhân gây bệnh ung thư. Đạm tồn dư trong đất là nguyên nhân gây độc hai cho đất nên bún đạm vừa phải, đúng thời điểm cây có nhu cầu.
. Phân Kali: giúp cây tạo mô, xúc tiến quá trình hình thành tinh bột, tăng khả năng chống rét, chống chịu sâu bệnh, tăng khả năng hấp thụ đạm của cây. Các cây thuốc lấy củ và hạt rất cần kali, phân kali thường ở dạng Sunfat (K2SO4) hoặc Nitrat (KNO3), dùng để bón lót hay bón thúc
. Vôi bột : Cung cấp canxi cho cây, Thiếu canxi rễ cây phát triển kém, hoa rụng sớm. Vôi khử chua cho đất và củng cố kết cấu đất. Có thể không phải bón vôi nếu đất không chua.
* Muốn cây phát triển tốt, cần phải bón thúc và tưới nước như sau:
. Dùng phân chuồng hoai mục tưới thúc (pha loãng 3- 5 lần).Với cây lấy thân, hoa, lá dùng phân hữu cơ hoai mục pha loãng tưới ở thời gian sinh trưởng. Cây chớm nụ thì ngừng bón.Với cây lấy rễ, củ dùng phân hoai mục bón thúc.
. Phân hoá học dùng như sau : Phân đạm Sunfat không dùng cho đất PH thấp(chua), đạm dùng bón thúc cho cây . Khi bắt đầu hình thành củ thì ngừng bón. Với loại cây có thời gian sinh trưởng dài thì bón thúc phân thành nhiều đợt.
- Thời vụ gieo trồng và kỹ thuật gieo trồng
Gieo trồng đúng thời vụ: mỗi loài cây trồng có thời vụ thích hợp cho từng vùng trong năm riêng như vùng đồng bằng bắc bộ cây đương quy gieo hạt tháng 9-10, trồng cây tháng 10-11.Vùng núi cao (Sa Pa) cây đương quy gieo hạt tháng 8- 9 trồng tháng9- 10...
Mật độ gieo trồng: Mật độ cây trồng là số cây trên diện tích sản xuất. Mật độ lý thuyết là mật độ cây trên 1m2 nhân lên cho 1ha (10.000 m2) luôn cao hơn mật độ thực tế vì chưa trừ đi diện tích rãnh luống.Vì thế người ta dùng khái niệm khoảng cách là kích thước cách nhau của cây trồng gồm cách hàng và cách cây.
Mỗi loài cây trồng thích ứng với một mật độ khoảng cách khác nhau, trồng đúng mật độ đảm bảo cây sử dụng ánh sáng và đất trồng hiệu quả nhất, cây sinh trưởng mạnh, giảm thiểu sâu bệnh, cho năng suất và chất lượng cao nhất.
Gieo thắng trên ruộng sản xuất như: đương quy, ngưu tất, sâm bố chính...
Vừa gieo thẳng vừa gieo trong vườn ươm cây con rồi đánh đánh ra trồng như: bạch chỉ, bạch truật, ích mẫu. Cần chú ý đối với cây lấy củ như: bạch chỉ, huyền sâm trồng bằng cây con hay bị chột không có củ cái to, nhiều củ con. Sau khi gieo cần được che phủ bằng rơm rạ, cỏ khô... giữ ẩm, sau gieo tưới ẩm, khi cây có lá mầm thì gỡ bỏ rơm rạ phủ để cây mọc nhanh.
Gieo thẳng tỉa định cây đảm bảo mật độ
- Xới xáo, làm cỏ
Cần xới phá váng sau mưa, tránh kết váng, đất tơi xốp cho cây sinh trưởng cần xới nhẹ, nông và nhổ sạch cỏ.
Với cây thuốc lấy củ, rễ như : huyền sâm, sinh địa, bạch truật... cần vun đắp vào gốc 3- 4 lần sau mỗi lần bón thúc, có tác dụng vững cây, tránh đổ mà còn phòng bệnh lở cổ rễ. Đừng xới xáo khi cây phủ kín luống.
- Tỉa cây
Cần tỉa bỏ bớt cây theo yêu cầu của từng lạo cây, vì cây mọc dày cần tỉa bớt cho đúng mật độ và giâm lại vào chỗ thưa hoặc đem trồng nơi khác, tỉa bỏ cây xấu, cây có bệnh, cây còi cọc... những cây trồng bằng mầm cần tỉa bỏ các mầm yếu, chỉ để lại mỗi hốc vài mầm to, cho cây khoẻ, năng suất cao.
- Tưới cây
Cây thuốc đều ưa ẩm nhưng lại sợ úng. Do đó khô hạn phải tưới, khi mưa to phải tháo nước kịp thời. Cần chú ý tưới kịp thời vào giai đoạn cây ra củ, đâm hoa, kết hạt để cây đủ ẩm, cho năng suất thu hoạch cao.
- Bấm hoa trên cành
Với cây lấy củ thì khi cây chớm có nụ hoa phải cắt bỏ ngay để chất dinh dưỡng tập chung vào rễ cho củ to, phẩm chất cao. Cần tỉa bớt cành lá già cho thoáng, ít sâu bệnh. Với cây cho củ, rễ như: Ngưu tất, huyền sâm cần bấm ngọn, tỉa cành để dinh dưỡng tập chung vào rễ củ. Với cây lấy hạt làm giống cần bấm bớt hoa và quả nhỏ, chỉ để lại quả to hơn cho hạt chắc, mẩy, chất lượng tốt.
- Làm giàn
Cây có dây leo như Hoài sơn, đẳng sâm, kim ngân hoa. Ba kích.. cần làm giàn. Tuỳ theo cây mà làm giàn cho phù hợp. Với loại vươn dài cần trồng cạnh cây cao cho leo như: sắn dây, gấc. Một số cây cần bóng râm như tam thất... Phải làm dàn che nắng hoặc trồng xen với cây cao có lá rợp để lấy bóng mát.
- Luân canh
Đất trồng cây thuốc không thể cố định liên canh. Luân canh có tác dụng tận dụng được các chất dinh dưỡng trong đất và hỗ trọ các cây trồng trước, cây trồng sau, giảm thiểu sõu bệnh hại. Ví dụ:
- Vụ lúa sớm thu hoạch sau đó trồng bạch chỉ sẽ làm đất đồng dều hạn chế cỏ dại và sâu bệnh cho cây thuốc.
- Trái lại trồng bạc hà liên tiếp trên một thửa đất sẽ bị thất thu nặng
Luân canh cây thuốc có nhiều cách:
+ Luân canh cây lấy củ và cây lấy lá như: bạch chỉ (củ)- ích mẫu (lá)
+ Luân canh cây có rễ ăn sâu với cây có bộ rễ ăn nông như: ngưu tất, địa liên.
+ Luân canh cây thuốc với cây lương thực
Tóm lại, việc trồng luân canh đối với cây thuốc cần chú ý để cây cho năng suất, chất lượng đều tốt đảm bảo tiêu chuẩn của phẩm cấp dược liệu.
4. Phòng trừ sâu bệnh
Trong điều kiện khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm của nước ta, sâu bệnh phát sinh dễ dàng và gây bệnh rất lớn cho cây thuốc. Cây thuốc trồng ở nước ta có nhiều loại, với thời gian sinh trưởng và phát triển khác nhau, do đó sự diễn biến của sâu bệnh hại cũng hết sức phức tạp. Ngoài ra mức độ gây hại cũng phụ thuộc vào các điều kiện ngoại cảnh khác như: đất đai, khí hậu, nguồn bệnh.
Có những bệnh chính như:
+ Lở cổ rễ thường xuất hiện vào thời kỳ cây con (tháng 12, 1) các cây như ngưu tất
+ Bệnh thối gốc do nấm gây hại phát sinh vào những lúc mưa nắng thất thường (địa hoàng)
+ Bệnh nấm hạch xuất hiện vào tháng 2, 3 (ích mẫu)
+ Bệnh phấn trắng gây hại vào tháng 5 (xuyên khung)
Sâu hại cũng có nhiều loại:
+ Trong thời kỳ cây mới mọc, hay bị sâu xám phá hại, trên các cây như: bạch chỉ, địa hoàng, bạch truật, hoài sơn, đan sâm...
+ Khi cây trưởng thành hay bị các loại sâu như: sâu khoang, sâu đo, sâu xanh, bọ nhẩy, rệp chích hút phá hoại các cây: sâm bổ chính, ngưu tất, bạc hà...
Do sâu bệnh hại cây thuốc phức tạp, nên biện pháp phòng trừ tổng hợp là có hiệu quả nhất đó là:
+ Biện pháp canh tác: làm đất kỹ, vệ sinh đồng ruộng, xử lý đất trước khi trồng để tiêu diệt mầm mống gây bệnh hại ở trong đất
+ Biện pháp nhiệt hoá học để sử lý hạt giống, mầm giống trước khi gieo trồng
+ Biện pháp ủ phân hoai mục dùng bón lót cho cây thuốc có tác dụng tiêu diệt bớt các mầm sâu bệnh trong phân chuồng
Biện pháp phòng trừ sâu bệnh cho cây đã trồng không chỉ giữ ổn định năng xuất mà cũn ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng sản phẩm, có thể dùng thiên địch, biện phỏp phũng trừ tổng hợp, biện phỏp sinh học, thuốc cú nguồn gốc sinh học và cuối cựng mới dựng thuốc hoá học trong danh mục được phép sử dụng(Cần chú ý dùng đúng thuốc, đúng lúc, đúng thời vụ, đúng chỉ dẫn trên mác nhẫn...) như :
* Loại sâu miệng nhai – dùng thuốc có tác dụng tiếp súc
* Loại sâu chích hút – Dùng thuốc có tác dụng nội hấp
* Phun định kỳ ngay từ khi mới chớm bệnh hoặc khi chưa phát bệnh
Để giảm thiểu thiệt hại, phải lấy phòng sâu bệnh là chính. Canh tác đúng kỹ thuật, đúng thời vụ, sử lý đất dúng quy trình, thực hiện luân canh và vệ sinh đồng ruộng triệt để giảm thiếu sâu bệnh đến mức thấp nhất . Sử dụng biện pháp phòng trừ sâu bệnh tổng hợp làm then chốt. Chú trong khai thác các giải pháp sinh học phòng trừ sâu bệnh như nuôi ong, chim giệt sâu, nuôi kiến giệt rệp
Điều kiện phải sử dụng thuốc trừ sâu bệnh, ưu tiên dùng thuốc có nguồn gốc sinh học
Thuốc hóa học chỉ sử dụng loại trong danh mục thuốc được phép sử dụng, ưu tiên dùng loại thuốc có thời gian phân hủy nhanh
Các loại thuốc thông thường được dùng cho cây thuốc như: Vôfatoc, Tinor, dung dịch Bocdô 1%, hợp tễ Lưu huỳnh (vôi + lưu huỳnh đun trong nước) Zinip, TMTD ....
Các loại thuốc trên có thể dùng để trừ các loại sâu bệnh cho cây thuốc như: Sâu sám, sâu ăn lá, rệp.... bệnh đốm lá, đốm nâu, lở cổ rễ... Tuỳ theo từng bệnh cụ thế mà sử dụng liều lượng cho thích hợp. Chú ý thu hoạch dược liệu vào thời gian thuốc đã phân huỷ hết không còn lại dư thừa trong cây : khoảng từ sau 2- 3 tuần kể từ lần phun cuối cùng cho cây
5. Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM)
Định nghĩa, nguyên tắc cơ bản trong quản lý dịch hại tổng hợp
a - Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) là gì?
Theo nhóm chuyên gia của tổ chức nông lương thế giới (FAO), "Quản lý dịch hại tổng hợp" là một hệ thống quản lý dịch hại mà trong khung cảnh cụ thể của môi trường và những biến động quần thể của các loài gây hại, sử dụng tất cả các kỹ thuật và biện pháp thích hợp có thể được, nhằm duy trì mật độ của các loài gây hại ở dưới mức gây ra những thiệt hại kinh tế.
 
b - Năm nguyên tắc cơ bản trong quản lý dịch hại tổng hợp (IPM)
* Trồng và chăm cây khoẻ:
- Chọn giống tốt, phù hợp với điều kiện địa phương.
- Chọn cây khoẻ, đủ tiêu chuẩn.
- Trồng, chăm sóc đúng kỹ thuật để cây sinh trưởng tốt có sức chống chịu và cho năng suất cao.
* Thăm đồng - Kiểm tra đồng ruộng
Thường xuyên đi thăm và kiểm tra đồng ruộng, nắm được diễn biến về sinh trưởng phát triển của cây trồng; dịch hại; thời tiết, đất, nước... để có biện pháp xử lý kịp thời.
* Nông dân trở thành chuyên gia đồng ruộng: Nông dân hiểu biết kỹ thuật, có kỹ năng quản lý đồng ruộng cần tuyên truyền cho nhiều nông dân khác.
* Phòng trừ dịch hại: Sử dụng các biện pháp phòng trừ thích hợp tuỳ theo mức độ sâu bệnh, thiên địch ký sinh ở từng giai đoạn. Sử dụng thuốc hoá học hợp lý và phải đúng kỹ thuật.
* Bảo vệ thiên địch: Bảo vệ những sinh vật có ích, giúp nhà nông tiêu diệt dịch hại.
Nội dung quản lý dịch hại tổng hợp
a - Biện pháp canh tác
* Làm đất sớm và vệ sinh đồng ruộng
Làm đất sớm và vệ sinh đồng ruộng sau mỗi vụ gieo trồng có thể diệt được nhiều sâu non và nhộng sống trong các cây hoang dại và tàn dư của cây trồng trước trên ruộng; đồng thời làm mất nơi trú ngụ và nguồn thức ăn của chúng.
Nguyên lý tác động của biện pháp vệ sinh đồng ruộng và xử lý tàn dư cây trồng sau vụ thu hoạch là cắt đứt được vòng chu chuyển của sâu bệnh từ vụ này sang vụ khác và hạn chế nguồn sâu bệnh tích luỹ, lây lan ngay từ đầu vụ.
* Luân canh
Luân canh với các cây trồng khác tránh được nguồn bệnh tích luỹ từ vụ này sang vụ khác. Có thể xen canh với các cây họ đậu vừa cải tạo đất vừa cắt đứt vòng chu chuyển của sâu bệnh, cũng có thể xen canh với các cây thuốc khác không cùng họ.
* Thời vụ gieo trồng thích hợp
Thời vụ gieo trồng thích hợp đảm bảo cho cây thuốc sinh trưởng, phát triển tốt, đạt được năng suất cao, tránh được rủi ro về thời tiết. Việc xác định thời vụ thích hợp còn phải dựa vào đặc điểm phát sinh gây hại của các loài sâu bệnh quan trọng, đảm bảo cho cây tránh được các đợt cao điểm của dịch bệnh.
* Sử dụng hạt giống, cây giống khoẻ, chống chịu sâu bệnh cao
- Hạt giống khoẻ, sạch bệnh giúp cho cây phát triển thuận lợi.
- Sử dụng giống chống chịu giảm sử dụng thuốc hoá học phòng trừ sâu bệnh; giảm ô nhiễm môi trường, bảo vệ được thiên địch; giữ được cân bằng hệ sinh thái nông nghiệp.
* Gieo trồng với mật độ hợp lý: Mật độ và kỹ thụật trồng phụ thuộc vào giống, thời vụ, đất và dinh dưỡng, trình độ thâm canh.... Mật độ quá dầy hoặc quá thưa đều ảnh hưởng đến năng suất, đồng thời còn ảnh hưởng đến sự phát sinh và phát triển của sâu bệnh, cỏ dại.
* Sử dụng phân bón hợp lí: Bón phân quá nhiều hoặc bón phân không hợp lý sẽ làm cho cây phát triển không bình thường và dễ bị sâu bệnh phá hại. Cây được bón quá nhiều phân sẽ phát triển quá mạnh, trở nên non yếu dễ bị sâu bệnh phá hại.
b - Biện pháp thủ công
Bẫy đèn bắt bướm, ngắt ổ trứng, đào hang bắt chuột...
c - Biện pháp sinh học
* Tạo môi trường thuận lợi cho các loại sinh vật có ích là kẻ thù tự nhiên của dịch hại phát triển nhằm góp phần tiêu diệt dịch hại:
- Tạo nơi cư trú cho thiên địch sau vụ gieo trồng bằng cách trồng xen, trồng cây họ đậu trên bờ ruộng, làm bờ rạ cho thiên địch ẩn nấp...
- Bảo vệ thiên địch tránh khỏi độc hại do dùng thuốc hoá học bằng cách sử dụng những loại thuốc chọn lọc, thuốc có phổ tác động hẹp, dùng thuốc khi thật cần thiết và phải dựa vào ngưỡng kinh tế...
- Áp dụng các kỹ thuật canh tác hợp lí tạo điều kiện cho thiên địch phát triển.
* Ưu tiên sử dụng các loại thuốc Bảo vệ thực vật sinh học;
Các loại thuốc sinh học chỉ có tác dụng trừ dịch hại, không độc hại với các loại sinh vật có ích an toàn với sức khỏe con người và môi trường
d - Biện pháp hoá học
* Sử dụng hợp lý thuốc hoá học BVTV
- Sử dụng thuốc theo ngưỡng kinh tế: Tiết kiệm được chi phí, giữ cân bằng sinh học trên đồng ruộng, hạn chế ô nhiễm môi trường.
- Sử dụng thuốc an toàn với thiên địch: Lựa chọn thuốc ít độc hại, chọn thời gian và phương thức xử lý ít ảnh hưởng với thiên địch.
- Sử dụng thuốc theo nguyên tắc 4 đúng:
+ Đúng chủng loại: Mỗi loại sâu hay bệnh đều có những loại thuốc thích hợp để phòng trừ. Dùng không đúng thuốc sẽ không diệt được sâu bệnh mà còn gây lãng phí và ảnh hưởng tới thiên địch và môi trường.
+ Đúng liều l­ượng và nồng độ: Liều lượng là lượng thuốc quy định cho một đơn vị diện tích (hecta, sào hay công đất... mét khối kho tàng...). Nồng độ sử dụng là độ pha loãng của thuốc dạng lỏng, dạng bột để phun lên cây, lượng đất bột, cát để trộn với thuốc hạt rắc vào đất.
Dùng thuốc không đủ liều lượng và nồng độ hiệu quả sẽ kém, dịch hại dễ nhờn thuốc. Sử dụng quá liều lượng và nồng độ (lạm dụng thuốc) vừa lãng phí, vừa độc hại. Phun rải thuốc không đúng cách hiệu quả sẽ kém, thậm chí không có hiệu quả.
+ Đúng thời điểm (đúng lúc): Tác hại của dịch hại cây trồng chỉ có ý nghĩa khi mật độ quần thể đạt tới số lượng nhất định, gọi là ngưỡng kinh tế. Do vậy, chỉ sử dụng thuốc đối với sâu hại khi mật độ của chúng đạt tới ngưỡng kinh tế. Các biện pháp "phun phòng" chỉ nên áp dụng trong những trường hợp đặc biệt. Phun thuốc định kỳ theo lịch có sẵn hoặc phun theo kiểu cuốn chiếu là trái với nguyên tắc của phòng trừ tổng hợp.
+ Đúng kỹ thuật (đúng cách): Dùng thuốc phải căn cứ vào đặc điểm của sâu bệnh hại.
* Sử dụng thuốc có chọn lọc
Trong quản lý dịch hại tổng hợp, người ta chủ trương ưu tiên dùng các loại thuốc có phổ tác động hẹp hay còn gọi là thuốc có tác động chọn lọc. Tuy nhiên, cho đến nay những nghiên cứu về tác động chọn lọc và độ an toàn của thuốc đối với thiên địch còn rất ít.
6. Thu hoạch và chế biến sơ cấp
Thu hái cây thuốc là một khâu có tầm quan trọng nhất trong quá trình trồng cây để đạt được khối lượng dược liệu và chất lượng cao, hiệu quả kinh tế cao.Thu hoạch đúng thời vụ là quan trọng nhất quyết định hàm lượng hoạt chất trong cây và năng suất cây trồng.Kỹ thuật thu hái của từng cây lệ thuộc vào những yếu tố sau:
Các đặc điểm của bộ phận dùng
Với cây lấy củ, rễ: Với cây thân thảo thường thu hoạch vào lúc cây bắt đầu vàng úa, cần cắt bỏ thân, lá để chừa lại 10cm ở phần gốc để nhổ cho dễ. Dùng cuốc, thuổng đào bới xung quanh để lấy củ, tránh làm xây xát và gãy củ, rửa sạch đất cát, cắt bỏ rễ con. Với cây lưu liên khi thu hái rễ cần chú ý sao cho không ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của các bộ phận trên mặt đất.
Với cây lấy thân: có ít trường hợp chỉ thu hoạch thân. Thường người ta thu bóc vỏ thân hoặc vỏ rễ, thu hái vào lúc cây ra nhựa cho rễ bóc. Với những cây đến tuổi già thì đốn cả cây, đào cả rễ sau này trồng lại (canhkina, quế). Trường hợp không chặt cả cây thì bóc lấy một phần vỏ, còn để lại một phần vỏ trên cây để cây tiếp tục sinh trưởng cho thu hoạch vụ sau. Có khi dựa vào khả năng tái sinh của cây, để chừa lại đoạn gốc vài cm, để cây tiếp tục nảy chồi tái sinh cây mới.
Với cây thu họch các bộ phận trên mặt đất:
+ Thu hái vào lúc ra hoa: Có dược liệu là nụ hoa (hoè), là hoa đã nở (cúc hoa). Với cây lâu năm có thể dùng gậy có móc để bẻ từng bông hoa, chùm hoa hoặc đoạn cành nhỏ mang hoa. Sau khi phơi sấy khô cần rây qua màng dể thu họch hoa, nụ hoa...
+ Thu hái quả, hạt: thu hoạch lúc quả chín (gấc, ý dĩ, hồi...) là thời kỳ có nhiều hoạt chất, không lên dùng gậy đập hoặc rung cây cho quả rụng mà cần phải dùng thúng, bắc thang thu hái. Với loại dược liệu có quả và hạt nhỏ thường thu hái khi quả gần chín, không nên để quả chín quá hạt bị rụng, rơi ra ngoài. Có thể thu hái cả cây, bó thành bó, phơi khô đập lấy hạt. Có loài cây cho thu 2 vụ quả hạt trong năm (hồi)
Thời kỳ sinh trưởng của cây, thời gian trong ngày, thời tiết lúc thu hoạch
Với một số loài cây cỏ sống hàng năm như: bạc hà, ích mẫu, tinh dầu giun có thế thu hái 1năm 2- 3 lứa vào thời gian:
+ Khi cây ra nụ: ích mẫu
+ Khi cây ra hoa; Bạc hà, tinh dầu giun
+ Trong ngày với những cây tinh dầu nên thu hoạch từ 9h sáng đến 3h chiều, đó là thời gian cây tích luỹ nhiêu tinh dầu
Tuy nhiên thu hái dược liệu cần xác định đúng thời kỳ thu hoạch
+ Với cây lấy củ: thường khi cây bắt đầu vàng úa, lá gốc đã già, lúc này hoạt chất tập chung ở củ. Ví dụ Bạch chỉ, đương quy thường thu hoạch vào tháng 6, ngưu tất vào tháng 2- 3 (vùng đồng bằng). Song ở miền núi cao hầu hết các cây dược liệu lấy củ thường thu vào tháng 11, 12
+ Với cây lấy lá người ta thường thu vào lúc cây ra nụ: ích mẫu có nụ hoa (ích mẫu nhung), có tác dụng tốt hơn ích mẫu lấy vào lúc hoa tàn. Với cây lấy tinh dầu thường người ta thu hoạch vào thời kỳ hoa nở rộ, là lúc hàm lượng tinh dầu cao nhất (hương nhu, bạc hà)
+ Ngoài ra cần chú ý ở một số cây như: Hoa hoè- rutin là hoạt chất trong hoa, đạt cao nhất vào lúc cây ra nụ và biến mất khi hoa nở hoàn toàn. Long não với cây trên 25 tuổi cho nhiều bột Campho, ít tinh dầu , ngược lại long não ít tuổi (<10 tuổi) lại cho nhiều tinh dầu, ít Campho...
Tuy nhiên, nếu thời tiết mưa nhiều, úng nước, nếu có hiện tượng thối củ hoặc sâu bệnh phá hoại nghiêm trọng thì có thể thu hoạch sớm tránh thất thu.
Nên chọn thời tiết khô để thu hoạch. Chọn những ngày nắng ráo, thu hoạch sẽ chủ động được việc phơi sấy, chế biến. Thu hoạch cây lấy củ chú ý tránh bị sây sát, hoặc đứt rễ. Thu hoạch cây lấy lá phải cắt gọn gẽ, phơi phải trải mỏng, không được xếp đồng hay để ở buồng kín, lá sẽ bị hấp nóng, thối nhũn. Thu hoạch dược liệu ở cây lấy vỏ như: quế, hậu phát... thì phải dùng lạt thắt ngang cây hay ngang cành, làm cữ chiều dài và dùng dao nhọn rạch thành phên cho đều, phơi sấy và uốn thành từng thanh, không bóc tuỳ tiện làm giảm giá trị dược liệu.
Căn cứ vào mục đích sử dụng
Một dược liệu có thể dùng trực tiếp làm thuốc, để tiêu dùng trong nước, xuất khẩu hoặc dùng làm nguyên liệu chế biến
Để làm thuốc như với quế người ta khai thác vỏ thân, và các vỏ cành to. Để cất tinh dầu người ta sử dụng phần vỏ thân vụn nát, cành nhỏ và lá. Để xuất khẩu người ta sử dụng vỏ thân có kích thước thích hợp sau đó đem chế biến.
Để bảo quản dược liệu được lâu sau khi thu hái về cần được chế biến sơ bộ. Mỗi loại dược liệu cần có cách chế biến riêng, nhưng nói chung cần được rửa sạch và phơi hoặc sấy khô.
Nếu thời tiết nắng nóng thì đem phơi đó là biện pháp rẻ tiền và được ứng dụng nhiều nhất, nên phơi trên nong nia, tránh được nhiễm mốc, nhiễm bẩn. Thỉnh thoảng chú ý đảo lại nhất là dược liệu phơi là củ để dược liệu khô dần.
Cần lưu ý là, khá nhiều dược liệu phải đem phơi trong râm để khỏi bị biến dạng (mật gấu) hoặc hao hụt hoạt chất (các cây tinh dầu) hoặc biến chất (cúc hoa, kim ngân, lá dâu...). Cách phơi này y học cổ truyền gọi là phơi âm can. Điều đáng chú ý là phải phơi nơi thoáng gió, cũng có thể phơi ở nơi nắng nhẹ.
Nếu thu hái dược liệu gặp trời mưa thì cần phải sấy. Nếu dược liệu là loại củ thì phải sấy từ từ. Lúc đầu nhiệt độ từ 40- 500C sau tăng dần lên 70- 800C để tránh hiện tượng ở ngoài thì khô mà trong ruột còn ướt. Việc sấy phải tiến hành từ từ để đảm bảo lấy được nước khỏi cây thuốc. Hàm lượng nước trong cây thuốc chỉ còn 6,5- 8%, sau khi đưa cây thuốc ra khỏi lò sấy.
Thu đúng thời vụ, đúng thời điểm và đúng kỹ thuật đã được xây dựng thành quy trình. Thời điểm thu hoạch chọn ngày nắng, thu hoạch đến đâu sử lý sau thu hoạch ngay. Thiết bị và công cụ thu hoạch phải sạch, cất giữ nơi không có ô nhiễm. Sau thu hoạch phải loại bỏ ngay phần không phải làm thuốc và vật lạ. Làm khô nhanh chóng bằng biện pháp và quy trình thích hợp. Nếu giữ sản phẩm tươi phải tồn trữ ngay bằng các phương pháp và thiết bị thích hợp, không dùng chất bảo quản, nếu quy trình có cho phép dùng phải tuân thủ quy định về chất phụ gia thực phẩm.
7. Đóng gói, vận chuyển và tồn trữ
Việc đóng gói bao bì và bảo quản chống mối mọt là những yếu tố quan trọng để giữ cho phẩm chất dược liệu được tốt khỏi hư hỏng. Tuỳ theo loại dược liệu mà chọn dùng loại bao bì, hòm, thùng thích hợp. Nhưng phần nhiều dược liệu có thể đóng gói bằng 2 lớp bao bì: Lớp ngoài là bao tải hay bao vải, lớp trong là bao polietylen.
Về bảo quản các loại dược liệu là quả, hạt thì nên đựng trong chum, vại phủ lá chuối khô và đậy kín bằng nắp rơm bện con cúi, theo kinh nghiệm dân gian là tốt nhất. Chống mối thì lót ở dưới đáy đồ đựng hay dưới sàn nhà một lớp vôi cục, cách ly một lớp lá chuối khô sau đó xếp dược liệu. Chống mọt có thể lót và phủ với lá ngải cứu khô và lá mần tươi khô. Riêng đối với long nhãn cần lưu ý, sau khi sấy khô để nguội, đựng vào túi polyetylen, dán kín rồi chứa vào thùng sắt có nắp kín hay chum, vại đậy kín cũng được. Khi đóng gói không được để cho ruồi, nhặng đậu vào đẻ trứng sinh giòi, đặc biệt không được sông lưu huỳnh vì chất lưu huỳnh hấp thụ mạnh vào long nhãn sẽ gây độc cho người dùng.
Các dược liệu có thuỷ phần thấp như: Bạch chỉ, hoài sơn, bạch truật sau một thời gian bảo quản nên xông lưu huỳnh lại để chống mối mọt. Muốn cho lưu huỳnh cháy tốt, người ta thường chộn thêm 1% Kali-Clorat (diêm tiêu) để đốt cháy mạnh hơn.
Kiểm tra chất lượng trước khi đóng gói. Đóng gói theo quy định tiêu chuẩn (của nhà sản xuất hoặc nhà tiêu thụ) và lưu hồ sơ lô hàng (Tên sản phẩm, đặc tính, nơi sản xuất, số lô, trọng lượng,số đóng gói, nhà đóng gói, ngày đóng gói và người đóng gói). Vật liệu đóng gói sạch, khô, không bị ô nhiễm (Đạt tiêu chuẩn bao gói).
Phương tiện vận chuyển đạt tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm: chống ẩm, thông hơi tốt, hàng để có kệ cách mặt sàn và thành xe.
Kho tồn trữ dược liệu phải sạch thông thoáng,không ô nhiễm, không ánh sang trực tiếp. Có phương tiện bảo vệ chống chuột, côn trùng và gia súc.
 Công Ty TNHHSX&DVTM Tân Hương Đức , chuyên sản xuất và cung ứng giống cây dược liệu , bao tiêu các sản phẩm đầu ra cây dược liệu mọi thông tin chi tiết xin quý khách vui lòng liên hệ : 0466872314 Mobile 0962638076 / 0934416030 Email nguubang@gmail.com Zalo 0962638076

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Hỗ trợ trực tuyến



Skype Me™!
Mua Hàng
Trịnh Hữu Đức
0962638076



HotLine
0466.872.314

Thông tin

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 23

Hôm nayHôm nay : 1091

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 859889

Like facebook


 
Công Ty TNHHSX&DVTM Tân Hương Đức 
Thôn Lý Nhân -  Dục Tú - Đông Anh,Hà Nội 
Điện thoại: (04) 39617404 - Hotline : 0962.638.076
 Email: nguubang@gmail.com
Copyright © 2012 - 2013 Nguubang.com". ® Ghi rõ nguồn "Nguubang.com" khi phát hành lại thông tin từ website này.